Phòng trừ bệnh đốm sọc vi khuẩn hại lúa vụ Mùa
Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, bệnh đốm sọc vi khuẩn đang phát sinh và gây hại trên một số diện tích lúa tại một số địa phương trong tỉnh. Bệnh tiếp tục gây hại giai đoạn đẻ nhánh - đẻ nhánh rộ - đứng cái - làm đòng. Để chủ động phòng ngừa, hạn chế sự phát sinh, lây lan và thiệt hại do bệnh gây ra, góp phần bảo đảm năng suất, sản lượng lúa vụ Mùa năm 2026, bà con cần tăng cường kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm các diện tích có triệu chứng bệnh và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, trừ như sau:
1. Nguyên nhân gây bệnh
- Bệnh đốm sọc vi khuẩn hại lúa do: Vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzicola gây ra.
- Vi khuẩn chủ yếu xâm nhập vào cây lúa qua các vết thương do côn trùng cắn, lan truyền nhờ nước, mưa gió và sự tiếp xúc giữa các cây, lá trong đồng.
- Bệnh gây hại mạnh trong điều kiện nóng ẩm, ruộng lúa bón quá nhiều phân đạm, nhiệt độ 28 - 30°C, độ ẩm 80%.
2. Triệu chứng bệnh
- Bệnh gây hại trên lá, vết bệnh là những sọc nhỏ ngắn khác nhau, chạy dọc giữa các gân lá.
- Ban đầu vết bệnh xanh tái, dần dần chuyển màu nâu, tạo thành các sọc nâu hẹp.
- Bề mặt vết bệnh xuất hiện những giọt dịch nhỏ, tròn, màu vàng đục sau đó khô lại thành những viên keo vi khuẩn trong như hạt trứng cá, dễ dàng rơi khỏi mặt lá và rơi xuống nước trên ruộng.
- Khi ruộng bị nặng thì toàn bộ ruộng lúa chuyển màu vàng cam sau chuyển màu vàng nâu và cây lúa bị chết, không những gây thiệt hại lớn mà còn tồn dư mầm bệnh cho vụ sau.
.png)
3. Tác hại của bệnh
Bệnh đốm sọc vi khuẩn gây tổn thương trực tiếp trên bộ lá - cơ quan quan trọng thực hiện quá trình quang hợp và trao đổi chất của cây lúa. Khi bị bệnh, lá có thể vàng, cháy khô, làm giảm nghiêm trọng khả năng quang hợp và trao đổi chất, từ đó khiến cây sinh trưởng kém, còi cọc, đẻ nhánh hạn chế và cho năng suất thấp. Nếu bệnh gây hại nặng, cây có thể bị chết.
Bệnh có thể xuất hiện ở nhiều giai đoạn sinh trưởng của cây lúa và có khả năng lây lan nhanh. Đặc biệt, nếu bệnh phát sinh mạnh ở giai đoạn đẻ nhánh, vi khuẩn có thể tấn công gây nghẽn đòng, ảnh hưởng đến quá trình làm đòng, trổ và hình thành hạt. Khi diện tích lá chức năng bị suy giảm ở giai đoạn làm đòng - trổ, khả năng nuôi dưỡng hạt bị ảnh hưởng, làm giảm số hạt chắc, năng suất và chất lượng lúa, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người nông dân.
Bệnh thường phát triển mạnh trên những diện tích ruộng ẩm ướt, cấy dày và bón phân không cân đối, đặc biệt là bón thừa đạm. Nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, bệnh có thể gây hại nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng lúa.
4. Biện pháp phòng và trị bệnh
Biện pháp phòng bệnh
- Sử dụng giống khỏe, có khả năng chống chịu tốt với bệnh, phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương. Trước khi gieo cấy cần xử lý hạt giống, có thể xử lý bằng nước ấm ở nhiệt độ 52 - 54°C trong 30 phút để hạn chế nguồn bệnh trên hạt giống.
- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom và xử lý tàn dư cây bệnh sau thu hoạch; cày vùi rơm rạ, diệt cỏ dại nhằm hạn chế nơi tồn tại và lưu giữ nguồn bệnh.
- Gieo cấy với mật độ hợp lý, không cấy quá dày; bón phân cân đối, hạn chế bón thừa đạm, đặc biệt không bón thúc đạm khi ruộng đang có bệnh. Không sử dụng các loại phân bón qua lá, phân bón kích thích sinh trưởng khi bệnh đang phát sinh và gây hại.
- Điều tiết nước hợp lý, chủ động tiêu thoát nước sau mưa, không để ruộng ngập úng hoặc quá ẩm kéo dài. Khi bệnh mới xuất hiện và phạm vi gây hại còn hẹp, có thể rút nước trong một thời gian phù hợp để hạn chế điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển.
- Thường xuyên thăm đồng, kiểm tra ruộng lúa, nhất là sau những đợt mưa nhiều, độ ẩm cao. Khi phát hiện những diện tích có triệu chứng bệnh cần khoanh vùng, theo dõi chặt chẽ và có biện pháp xử lý kịp thời, tránh để bệnh lây lan trên diện rộng.
Biện pháp trừ bệnh
Biện pháp sinh học: Sử dụng các chế phẩm sinh học có chứa Bacillus subtilis, Bacillus amyloliquefaciens, Streptomyces spp. để hỗ trợ ức chế vi khuẩn gây bệnh, ưu tiên sử dụng theo hướng phòng bệnh ngay từ đầu vụ và trên những diện tích có nguy cơ cao. Kết hợp chế phẩm sinh học với các biện pháp canh tác, vệ sinh đồng ruộng, bón phân cân đối và điều tiết nước hợp lý nhằm hạn chế bệnh phát sinh, lây lan và gây hại.
Biện pháp hóa học: Khi bệnh phát sinh, có nguy cơ lây lan nhanh, có thể sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chứa các hoạt chất Bismerthiazol + Tecloftalam; Copper Oxychloride + Streptomycin sulfate + Zinc sulfate; Cucuminoid + Gingerol; Fenoxanil + Kasugamycin; Gentamicin sulfate 2% + Oxytetracycline hydrochloride 6%; Ningnanmycin (min 20%); Tổ hợp dầu thực vật (dầu màng tang, dầu sả, dầu hồng, dầu hương nhu, dầu chanh) hoặc thuốc có hoạt chất được đăng ký phòng trừ bệnh do vi khuẩn trên lúa.
Lưu ý: Phun sớm khi bệnh mới xuất hiện, phun ướt đều lá; phun thực hiện theo đúng liều lượng, nồng độ và hướng dẫn trên nhãn thuốc; không tự ý tăng liều, phối trộn thuốc.



.png)


.png)
.png)





